Trước khi tìm hiểu về môn phong thủy, chúng ta điểm qua những ông tổ môn thuật toán này xưa nay, những người được gọi là thầy địa lý, tướng địa, bốc trạch, tốt phong thủy gia… hầu có cái nhìn về môn địa lý học xem phương hướng, tìm long mạch để an táng người chết tuyệt xây dựng nhà cửa mang lại người sống, sau này trở thành môn triết học Trung Quốc bên trên thế giới.

Bạn đang xem: Thầy địa lý xem phong thủy

- Sinh khí, tụ khí tạo diện mạo cảnh quan, môi trường cho nhỏ người thấy thoải mái vào cuộc sống; bởi có nó nhỏ người mới “có hồn”.

Còn môn phong thủy lúc xâm nhập vào nước ta, mới đầu chỉ phổ biến hạn chế vào xây dựng đình, chùa, đền, miếu và mồ mả vào thời nhà Đinh, Lê (thế kỷ thứ X). Đến đời nhà Lý, trong chiếu dời đô ra Thăng Long, vua Lý Thái Tổ đến rằng :

-”… địa điểm đây là trung chổ chính giữa của trời đất, được thế rồng bay hổ ngồi, đúng điểm kết tụ bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc”.

Cũng vào thời kỳ vua Lê, nước ta có thầy địa lý Tả Ao, nối liền phong thủy ko kém Quách Phác đời Tấn của Trung Quốc xưa, sau Tả Ao còn có tiến sĩ Hòa Chính, cũng từng lịch sự nước bạn học hỏi thuật xem tướng đất, dùng cất nhà và an táng.

Sau đây một số tài nghệ của các ông tổ ngành địa lý phong thủy xưa :

1- QUẢN LỘ – đời Tam Quốc

Quản Lộ là thuật sĩ sống ở tỉnh đánh Đông, thời Tam Quốc (226 – 248 DL), có hình dáng xấu xí, nói năng lại cộc lốc, giỏi uống rượu. Ông thờ chủ nghĩa thần bí qua nghề chiêm bốc và tướng địa.

Quản Lộ giỏi về âm trạch và dương trạch, âm là coi phần mồ mả, còn dương coi về thế đất dựng nhà.

Trong sử nói, Quản Lộ có cuốn “Quản thị địa lý chỉ mông” gồm 10 quyển, tuy vậy thực tế chỉ là sách mượn danh, dựa vào cuốn “Tam quốc chí – Quản Lộ truyện” ghi lại theo truyền khẩu qua nhiều người (sách nói Quản Lộ thần thông, biết coi bói, coi đất đai để táng xuất xắc xây cất, với nhiều chuyện thần kỳ được chép qua sự truyền khẩu vào dân chúng).

Có chuyện về tài của Quản Lộ lúc chứng kiến tận mắt âm trạch, dương trạch như sau :

- Một chuyện về âm trạch (mả táng) :

Một ngày nọ Quản Lộ đi ngang qua ngôi mả chôn Vu Khưu Kiệm, ông ngồi nghỉ chân rồi nhìn vào ngôi mả của họ Vu mà than thầm : “Cây cối xanh tốt tuy thế thế đất không bền, tấm bia đề tựa mặc dù văn hoa nhưng không có hậu. Ngôi mả sẽ ở thế : Huyền Vũ giấu đầu, Thanh Long mất chân, Bạch Hổ ngậm xác còn Chu Tước đã khổ đau. Tứ phía lâm nguy !

Theo thuật phong thủy, người nhà họ Vu chỉ hai, ba năm sau sẽ bị diệt”.

Sau đó lời than thở của Quản Lộ quả nhiên ứng nghiệm. Lúc đó Quản Lộ xem mả của Vu Khưu Kiệm theo hướng thiên văn chiếu, nhìn “Tứ tượng” của chùm sao Nhị Thập Bát Tú (Thanh Long, Bạch Hổ, Huyền Vũ, Chu Tước), mà biết cát hung đến gia đình họ Vu về sau.

Còn mả bà thím của anh em Quách Ân, thầy Quản Lộ cũng qua thuật chiêm bốc đến rằng ngôi mả này vẫn bị “nữ quỷ” vào đất táng báo ứng. Mặc dù cuộc đất được bạn bè Quách Ân đã mời thầy địa lý tìm giúp, ông ta mang lại rằng nó đẹp về hậu vận. Mà lại về “luật nhân quả” lại không từ một cuộc đất dù đẹp cách mấy đi nữa, cơ mà trong quá khứ những chuyện gian tà, gian ác sẽ để lại mang lại hậu nhân phải hứng nhận quả đắng để đền bù lại tội lỗi người chết đã khiến ra. Đúng là ba bạn bè nhà Quách Ân về sau đều bị thọt chân.

Ý Quản Lộ nói, nếu làm ác mà cứ đi tìm cuộc đất tốt để táng, mong sao cho hậu nhân được sống vẻ vang phú quí là không thể được. Do luật nhân quả nói, gieo nhân nào sẽ gặt quả nấy. Vì vậy sống ở đời cần phải tích đức, sau hãy tìm cuộc đất tốt để an táng, như thế tính phong thủy mới được phát huy theo ý muốn.

- Một chuyện nói về dương trạch (nhà cửa) :

Một bà đang mang bệnh nặng nhờ Quản Lộ đến xem bói, bà ta nghĩ mình bị ma ám buộc phải gia đình cứ dần dần lụn bại, làm nhằm nhè lổ, còn người sống cứ mang bệnh tật gớm niên ko thuốc chữa khỏi.

Quản Lộ nhìn vào vào nhà mà nói với bà ta : “Góc nhà phía tây có chôn xác hai nam nhân, một người bị thương hiệu bắn trúng ngực, do vậy bà bị bệnh tim; còn một người bị giáo đâm vào đầu phải bà cũng thường xuất xắc nhức đầu. Ngôi nhà này đã bị ếm bùa của Lổ Ban. Nếu biết mà trừ, bà sẽ khỏi bệnh”.

Bà ta nghe theo lời Quản Lộ, đến người đào dưới góc nhà phía tây, thấy có hai hình nộm đúng theo lời ông nói. Từ đó gia đình bà không còn đau yếu và buôn bán phát đạt trở lại. Thường thợ dựng nhà hay yểm bùa Lổ ban để trả lễ thánh tổ mới có công ăn uống việc làm thường xuyên, trong muời căn nhà phải có ít nhất một nhà mắc phải, tuy thế họ yểm không độc, không làm mang đến chết người. Còn những kẻ có hiềm thù nhau, thường yểm những loại bùa gây ra chết chóc, chậm thì đúng một năm, cấp tốc thì 49 tốt 100 ngày.

Còn Quản Lộ tự coi bói đến chính mình, biết ông chỉ sống đúng bốn nhỏ giáp; quả thật vào năm 49 tuổi, Quản Lộ qua đời.

Người đời sau nói, cuốn “Quản thị địa lý chi mông” trong “Tam Quốc Chí – Quản Lộ truyện” giới thiệu, gồm 10 cuốn, 100 thiên, Quản Lộ viết về thuật phong thủy ko phải bởi chính ông nghiên cứu ra, vị người khác mượn tên. Nhưng không ai giải thích được người viết cuốn sách này là ai ? Vì vào 100 thiên truyện đều rất thần bí và sâu sắc.

Nên đã gần 2000 năm, đến bây giờ Quản Lộ vẫn còn được mọi người coi là ông tổ của thuật “chiêm bốc” xem địa lý phong thủy, qua tài coi thiên văn nhìn phương hướng mà bói thành quẻ.

*

Các thầy địa lý tăm tiếng thời xưacủa TQ

2- QUÁCH PHÁC – đời Tấn

Quách Phác tự Cảnh Đôn, người Hà Đông, ni tỉnh tô Tây, Trung Quốc. Ông sinh vào thời nhà Tấn (276-324 năm DL) sau Quản Lộ. Sách “Thái Bình quảng ký” viết về ông như sau :

- “Quách Phác hiểu biết bao la, biết thiên văn, địa lý, quy thủ long đồ, hào tượng sấm vĩ – là những môn coi bói bằng mu rùa, quẻ, thẻ, lời sấm truyền – lặng mộ lo nhà ở, ko có gì ko tinh thâm nám …”.

Quách Phác soạn cuốn “Táng thư” (coi mộ phần) và “Tướng địa thuật” (xem thế đất), yêu cầu được tôn xưng là tỵ tổ (tức ông tổ ngành địa lý).

Trong các truyền thuyết nói về Quách Phác, một hôm Hồ Mạnh Khang quan lại thái thú ở Lư Giang, lấy một tỳ nữ làm thiếp. Quách Phác cũng yêu người tỳ nữ, cần muốn lấy ả làm vợ, để đoạt được mục đích, Quách Phách làm phép lấy 3 đấu đậu rắc quanh nhà Hồ Mạnh Khang.

Sáng bữa sau họ Hồ thức giấc thấy mấy ngàn binh mã đã vây kín Phủ.

Hốt hoảng, Hồ Mạnh Khang liền mang lại mời Quách Phác đến xin kế sách. Họ Quách phán ngay lập tức :

- vào nhà ngài không nên nuôi người tỳ thiếp này, hãy gửi ả đi xa 20 dặm về hướng Đông Nam, ngài sẽ bán được giá, như thế chuyện dữ sẽ hóa lành.

Hồ Mạnh Khang nghe theo lời Quách Phác, ông ta vội đưa nàng tỳ thiếp chạy về hướng Đông phái mạnh mà bán, Quách Phác biết họ Hồ tin lời mình, liền sai người đi theo sở hữu ả ta về làm vợ. Sau đó Quách Phác bỏ bùa vào giếng nhà họ Hồ để giải việc quân mã sẽ vây tại Phủ.

Hồ Mạnh Khang không nghi ngờ chuyện này, ông ta còn hết lời khen ngợi Quách Phác, đi đến đâu cũng ca tụng ông là người tài giỏi trong việc xem dương trạch.

Trong sách “Nam sử – Trương Dụ truyện”, chép Quách Phác thông thạo Chu Dịch, coi các phần mồ mả an táng. Vào sách nói Quách Phác coi âm trạch mang đến Trương Dụ.

Cha của Trương Dụ là Trương Trừng chẳng may qua đời, Trương Dụ chuẩn bị chôn cất cha, nhờ Quách Phác tìm mang đến miếng đất để địa táng. Ông coi đất xong xuôi bảo :

- Táng ở chỗ này nửa đời sau của ông chỉ làm đến chức tam ty, đời sống ko thịnh. Táng chỗ tê tuy đất xấu nhưng mà ông làm đến công khanh, cuối đời mới phát, bé cháu hưởng được phước.

Trương Dụ y lời đưa cha chôn vị trí đất xấu. Kết quả Trương Dụ làm quan liêu đến năm 64 tuổi mới mất, bé cháu hưng thịnh theo cha ông.

Khi Quách Phác chết, ông gọi người nhà an táng vị trí đã dặn, nhờ vậy Quách Phác tu đắc đạo thành tiên, buộc phải trong “Quách Phác – Truyện động tiên” chép :

- Sau cha ngày lúc Quách Phác được chôn cất, người ở thành nam giới Châu vẫn thấy ông ngồi nhà đàm đạo với người thân. Vương Phác (bạn của Quách Phác, húy là Hoàn Dĩ, phản vua nhà Tấn đề nghị bị tru di tam tộc) còn giận Quách Phácbói mang đến mình ra một quẻ dữ, nên nghe lời đồn cho người đến đào mả ông, thấy trong quan tiền tài không có thi thể của Quách Phác, mới tin là đúng.

3- DƯƠNG QUÂN TÙNG – đời Đường

Tên húy là Ích, tự Thúc Mậu còn Quân Tùng là biệt hiệu. Người Quảng Đông sống vào đời nhà Đường (792 – 906 DL).

Dương Quân Tùng từng soạn cuốn “Chính long tử kinh”, được vua Đường phong làm Quốc sư, nắm phủ Linh đài địa lý sự (cơ quan canh gác thiên văn, địa lý, tế lễ). Lúc nhà Đường mất vào tay Hoàng Sào; Dương Quân Tùng cùng Bộc Đô Lâm đã đoán quẻ biết trước, lấy đi một số sách phong thủy thọ đời nằm trong Phủ, rồi bỏ Tràng An chạy về Cống Châu thuộc Ninh Đô quy ẩn.

Từ đó vào dân gian nói rằng thuật phong thủy có từ đời Đường, vì từ Tràng An, Dương Quân Tùng đã truyền dạy nghề cho Liêu Tam người cùng thôn, Liêu Tam truyền cho đàn ông tên Vũ, Vũ lại truyền cho nhỏ rể là Tạ Thế Nam… từ đó thuật phong thủy của họ Dương lan rộng ra đến người ngoài họ ngoài làng.

Người đời sau mộ danh ông, cho rằng Dương Quân Tùng thuộc môn hình phái, tức coi đất đoán được khu vực cát tuyệt hãm địa, nên tôn ông làm đại sư môn địa lý.

4- LẠI VĂN TUẤN – đời Tống

Lại Văn Tuấn tự Thái Tố, người huyện Xử Châu, làm quan liêu tại tỉnh Phúc Kiến. Sống vào thời Tống (thế kỷ thứ X).

Ở Phúc Kiến, Lại Văn Tuấn nổi tiếng coi về địa lý, nên sách “Địa kiên chí” có chép :

- Lại bố y (tên gọi thân mật, có nghĩa Lại áo vải) có người quen thuộc La Ngạn Chương ở Lâm Xuyên. Nhị người rất mến nhau, thích trò chuyện việc tìm hiểu lẽ huyền cơ về phong thủy.

Ngày nọ vợ của La Ngạn Chương mất, họ La đi tìm vị trí an táng thì tìm được một chỗ dùng làm huyệt mộ rất đẹp, phía trước có khe nước chia làm 3 dòng chảy, riêng đường chảy thứ cha không sâu quá ngực người và cũng ko dài lắm, chảy thẳng vào ruộng.

La Ngạn Chương đến mời Lại Văn Tuấn đến coi qua, ông bèn khen là đất táng rất hợp cách với người quá cố, và nói với họ La rằng :

- Đất đẹp có thể phát thành trạng nguyên, nhưng mà tiếc rứa nhánh thứ tía lại đoản, yêu cầu hậu nhân chỉ làm đến bảng nhãn thôi.

Quả không sai, hai mươi năm sau con của La Ngạn Chương chỉ đậu hàng thứ hai trong khoa thi.

5- LƯU CƠ – đời Minh

Sống vào những năm 1311-1375, tự Bá Ôn, người Thanh Điền tỉnh Triết Giang. Lưu lại Cơ đậu tiến sĩ triều Nguyên Thuận Đế. Khi Chu Nguyên Chương khởi binh, lưu giữ Cơ bàn 18 kế sách đề nghị được họ Chu trọng dụng.

Nhà Minh lấy kết thúc chính quyền từ tay nhà Nguyên, bèn mời lưu Cơ làm quân sư định ra các chính sách lớn trong nước.

Khi Chu Nguyên Chương dự định đóng đô ở Kim Long, còn lưu lại Cơ chọn đất ở hồ Trúc Tiền làm nền chính điện, nhưng lại vua Chu nói chỗ này quá nhỏ, buộc phải cho người nới rộng thêm mặt bằng ra sau cho thêm lớn.

Lưu Cơ biết việc tính đất “sai một ly đi một dặm”, ko phải cứ cuộc đất nào khổng lồ là tốt, yêu cầu chỉ nói : “Sau này nhà Minh còn phải dời đô đi nơi khác”.

Quả nhiên về sau Minh Thành Tổ phải dời đô đến Bắc Kinh, lời lưu lại Cơ quả thật ứng nghiệm.

Trong dân gian có sách “Kham dư mạn hứng” bởi Lưu Cơ soạn (Kham dư có nghĩa xem phong thủy, cũng là từ ngữ lúc nói đến trời đất), viết trọn vẹn về xem thiên văn địa lý, phải mọi người coi lưu lại Cơ như ông tổ ngành địa lý phong thủy vào đời nhà Minh.

6- TRẦN ĐOÀN – đời Tống

Nói về Hi Di Trần Đoàn (ông còn thương hiệu gọi Trần Chuyển) trong chúng ta hẳn có nhiều người nghe nói đến ông, vì Trần Đoàn được ca tụng nhiều vào ngành lý số qua thuật toán coi Tử Vi, Hà Lạc và còn là nhà nhân tướng học uyên bác, nhà coi tướng địa (xem đất đai nhà cửa) nữa.

Trần Đoàn sống trong thời nhà Tống, tự Đồ Nam, biệt hiệu Hi Di, người tỉnh An Huy. Lúc Tống Thái Tổ lên ngôi (966-979 DL) ông về ở ẩn tại Hoa Sơn.

Nghe nói, Trần Đoàn học được khoa phong thủy với thầy giáo Tăng Văn Xán (có sách nói ông là môn đệ của Ma Y đạo giả, một đạo nhân hậu duệ của phái mạnh Hoa Tiên Ông), sau thời điểm thành danh ông đã truyền lại mang lại Ngô Khắc Thành, Tống Chữ Vịnh. Do thông thạo Chu Dịch đề nghị lấy dịch học hòa trộn với môn phong thủy để thành môn xem trạch cát.

Sách “Phong thủy khư nghi” viết :

- Hi Di tiên sinh lấy trục Tý Hợi làm thủy, lấy Tý Ngọ làm hỏa… sách này mở đường mang lại bát quái (định phương vị), luật lữ (luật âm thanh trong nhạc khí), cả đến xem núi để định huyệt… lấy quái làm tượng (quẻ trong Chu Dịch).

Môn học này ông viết thành sách gồm 10 thiên, chỉ dẫn dùng quái, hào, luật, lữ có âm có dương có tiêu có phá và có sinh có hợp v.v…

Nên trong thuật phong thủy, người ta coi Trần Đoàn là bậc thầy vào phái “lý khí” (từ khí suy ra lý).

Ngoài 6 vị đã nói, ở Trung Quốc còn rất nhiều người uyên thâm về môn coi địa lý phong thủy, dẫu vậy chỉ là truyền thuyết như Bàn Canh, Công Lưu, Chu Công, Tiêu Cát… riêng ở nước ta, mọi người ca tụng một thầy địa lý xuất sắc là :

7- TẢ AO – đời nhà Lê (Việt Nam)

Là người học được khoa địa lý chính thống từ Trung Quốc, đem cái đã học chuyển về nước nghiên cứu mang đến phù hợp với phong thổ nhân văn, mà phát huy môn phong thủy theo tính cách riêng cho mình.

Tả Ao có tên Nguyễn Đức Huyên người làng Tả Ao, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, sinh vào năm nào ko rõ, mà lại ông có thương hiệu tuổi vào thời vua Lê chúa Trịnh (vào những năm 1545 – 1788).

Theo mọi người kể, Tả Ao có phụ thân mất sớm còn mẹ bị mù. Vì nhà nghèo yêu cầu đến xin giúp việc đến một ông thầy thuốc (lang y) người Tầu, trước lấy tiền trị mắt cho mẹ sau được học nghề thuốc. Chính thế mà ông chữa được bệnh mù mắt mang đến mẹ.

Thầy lang Tầu thấy Tả Ao có chí lớn, đã dẫn ông theo về Trung Quốc dạy thêm nghề thuốc. Gần nhà lang y, có ông thầy địa lý giỏi đã bị bệnh về mắt, Tả Ao được thầy lang phái sang chữa trị.

Thầy địa lý nói, nếu Tả Ao chữa khỏi bệnh mắt cho mình thì ông sẽ thưởng 50 lượng vàng. Tả Ao đã chữa khỏi bệnh mang đến thầy địa lý, cơ mà không nhận vàng mà chỉ xin ông ta truyền đến nghề phong thủy.

Vì ơn nghĩa, đề xuất thầy địa lý bằng lòng, liền truyền hết tinh xảo môn phong thủy cho Tả Ao học hỏi, đến khi thành tài, học và hành viên mãn, ông xin cả 2 ông thầy Tầu cho về nước.

Trước khi đến Tả Ao về Việt Nam, ông thầy địa lý muốn thử tài sự hiểu biết của Tả Ao, ông ta làm 100 tế bào hình đất kết trên bãi cát, dưới mỗi huyệt có yểm một đồng tiền, rồi gửi ông 100 cây kim đi điểm huyệt.

Tả Ao điểm đúng 99 lổ của đồng tiền, còn 1 cây điểm ở mép đồng tiền, mà huyệt này lại là huyệt thứ 100. Đây là huyệt ảo, vì tế bào hình tạo dáng rất huyền bí, ẩn hiện dưới những mô đất nhấp nhô, những thầy địa lý giỏi cũng khó phát hiện ra đúng huyệt đạo. Thấy Tả Ao đã điểm trúng các huyệt, thầy địa lý biết rằng người Việt nam giới đã học hết bí kíp phong thủy của Trung Hoa.

Khi Tả Ao về đến quê hương, ông chỉ lo hành nghề bốc thuốc chữa trị các bệnh tật mang lại dân chúng, ít khi sử dụng môn phong thủy đã học, chỉ lúc cần thiết mới ra tay coi dùm thế đất cho mọi người, tuy vậy danh tiếng về tài xem địa lý phong thủy của ông lại nổi hơn nghề thầy thuốc.

Nhưng cũng vì Tả Ao ko hành nghề xem phong thủy, phải ông ko có chân truyền cho kẻ hậu bối. Khi ông mất người nhà mới tìm thấy 2 bộ sách viết về địa lý, phong thủy, là Địa đạo diễn ca và Dã đàm Tả Ao. Nhưng lại trong dân chúng còn có nhiều sách được in nói chính là sách của Tả Ao.

Xem thêm: Bóng Đá Atletico Madrid Hôm Nay Và Các Trận Sắp Diễn Ra, Atletico Madrid

Còn các nhà coi “tướng đất” ở nước ta, lúc đọc chấm dứt 2 quyển trên, đều đến rằng phía trên là nhị bộ sách quý.